Một nội dung động chạm đến vấn đề này là làm thế nào để thúc đẩy nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tại doanh nghiệp Hà Nội.
I. Doanh nghiệp phải là nơi đến của KH&CN
Khi đề cập đến nâng cao hiệu quả và đa dạng hoá đầu tư cho KH&CN, ngoài đối tượng thường được quan tâm là các tổ chức hoạt động KH&CN, các cơ quan quản lý chuyên ngành và nhà nước, một không gian cần hướng tập trung đến là các doanh nghiệp. Ở đây không chỉ diễn ra việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học như thường thấy, mà ngày càng thể hiện vai trò trong nghiên cứu và phát triển, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sau gia nhập WTO và nhất là khi các tổ chức doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố được cơ cấu lại
Khoa học và Công nghệ phải tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế phát triển đòi hỏi và chi phối hoạt động của nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Hoạt động nghiên cứu triển khai vì tính hiệu quả của nền kinh tế phải xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp, của cơ sở. Đổi mới KH&CN rất phụ thuộc và năng lực nghiên cứu, sự học hỏi và sự đổi mới doanh nghiệp. Chính sách của Nhà nước phải tạo điều kiện để doanh nghiệp nghiên cứu triển khai để doanh nghiệp có thể phát huy năng lực nghiên cứu triển khai và hướng các nghiên cứu triển khai của cơ quan nghiên cứu, các trường đại học vào các doanh nghiệp.
Hoạt động nghiên cứu triển khai vì tính cạnh tranh của nền kinh tế phải giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh. Tình trạng này bao gồm sản phẩm mới, công nghệ mới, nguồn cung cấp mới và hình thức tổ chức mới.
Hoạt động nghiên cứu triển khai vì tính bền vững phát triển của nền kinh tế phải phục vụ nhu cầu bảo vệ môi trường, môi sinh và tiết kiệm, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
Cần hướng sự hoạt động của khoa học và công nghệ vào các doanh nghiệp để các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, nền kinh tế có thể phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đồng thời, các doanh nghiệp chỉ có thể phát triển thắng lợi trong xu thế cạnh tranh toàn cầu bằng sự nỗ lực và phát triển khoa học.
II. Đổi mới hoạt động KHCN trên địa bàn hướng tới doanh nghiệp
Khi đánh giá rào cản làm hạn chế việc đưa KH&CN vào thực tiễn sản xuất và đời sống ở địa phương, một đề tài độc lập cấp nhà nước nghiệm thu năm 2007 đã đề cập một số rào cản như sau:
Các cấp uỷ và lãnh đạo chính quyền địa phương chưa thực sự coi trọng vai trò của KH&CN đối với phát triển KT-XH địa phương (chiếm hơn 30% và chiếm gần 40% số lượng cán bộ được điều tra ở cấp uỷ và ở chính quyền).
Nhà nước chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để bắt buộc các tổ chức KH&CN cũng như các nhà khoa học phải cần đến các nhà sản xuất, các doanh nghiệp ở địa phương (chiếm gần 70% và hơn 60%). Những số liệu trên gợi mở cho việc chỉ đạo và quản lý KH&CN ở địa bàn Hà Nội.
Ngoài liên kết với các tổ chức KH&CN Trung ương đóng trên địa bàn, KH&CN Hà Nội cần gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu và ứng dụng ở cơ sở, nhất là các doanh nghiệp để góp phần phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ và đời sống xã hội của Hà Nội.
Để thực hiện gắn kết trên, cần xác định rõ phạm vi, nội dung, hình thức tổ chức và các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đối với doanh nghiệp và đổi mới phương thức kết hợp hoạt động của KH&CN Hà Nội với hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp. Gần đây, Thành phố có tổ chức Hội nghị 3 nhà (nhà doanh nghiệp - nhà quản lý - nhà khoa học) nhằm gắn kết chặt chẽ với nhau, nhà doanh nghiệp đưa ra nhu cầu, nhà quản lý làm cầu nối, nhà khoa học đáp ứng… thì kết quả nghiên cứu mới bám sát thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội.
Ngoài ra, cần tiếp tục đổi mới phương thức huy động, thu hút lực lượng nghiên cứu vào thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, các yêu cầu của doanh nghiệp thông qua triển khai các đề tài, dự án, đề án của doanh nghiệp để phát triển doanh nghiệp, ngành và kinh tế Thủ đô. Bên cạnh đó, đổi mới cơ chế và chính sách tài chính về phân bổ, hỗ trợ kinh phí cho nhiệm vụ KH&CN nói chung và đề tài, dự án sản phẩm mới của doanh nghiệp theo hướng thuận tiện và tạo điều kiện chủ động cho người sử dụng kinh phí ngân sách SNKH. Cần thiết thay đổi dần phương thức tài trợ cho bên cung cấp sang tài trợ cho người thực hiện đề tài, dự án.
Một vấn đề nữa là cụ thể hoá các chính sách ưu đãi đối với ứng dụng công nghệ mới. Điều 33 Luật KH&CN có nội dung áp dụng các chính sách ưu đãi đối với sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm bằng công nghệ mới, sản phẩm được làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam. Để khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, các văn bản pháp quy về ưu đãi thuế, về tài chính, tín dụng, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp… đã ban hành, nhưng hiệu quả thúc đẩy của nhân tố này còn hạn chế. Một phần do kém hiểu biết, tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, một phần do doanh nghiệp chưa có hoạch định kinh doanh và đầu tư đổi mới công nghệ bền vững. Phần khác, phía cơ quan quản lý chưa phổ biến đầy đủ kịp thời đến các đối tượng được hưởng ưu đãi, hoặc cơ chế chính sách chưa thực sự hấp dẫn đối với doanh nghiệp, hoặc chỉ áp dụng đối với dự án đầu tư đủ lớn và việc xét duyệt còn phức tạp, rườm rà. Cần chú ý khắc phục các nguyên nhân hạn chế này thì chính sách ưu đãi, hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới hy vọng chuyển biến và phát huy hiệu quả thiết thực
III. Đẩy nhanh tích luỹ năng lực kỹ thuật (điều kiện nghiên cứu và phát triển) ở doanh nghiệp
-Cải tiến kỹ thuật - công nghệ, triển khai nghiên cứu và phát triển để đẩy mạnh sự tiến bộ kỹ thuật công nghệ trong doanh nghiệp nhằm mục tiêu đổi mới sản phẩm dịch vụ, phát triển doanh nghiệp. Một trong các phương thức để thực hiện điều này là không ngừng tích luỹ kỹ thuật ở doanh nghiệp.
1. Nội dung tích luỹ kỹ thuật ở doanh nghiệp
Tích luỹ trong khâu thiết kế sản phẩm: Công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ (R & D) và thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm (P) của doanh nghiệp nhằm tạo ra sản xuất và tung ra thị trường những sản phẩm thích hợp và đáp ứng với nhu cầu tiêu thụ của khách hàng (hiện tại và nhu cầu tiềm ẩn). Điều này chỉ được khẳng định khi khâu thiết kế sản phẩm thoả mãn các tính năng, chức năng sản phẩm, tính kết cấu và mỹ quan của sản phẩm. Có nghĩa là, thiết kế sản phẩm bao gồm thiết kế tổng thể, thiết kế chi tiết phải chứa đựng thiết kế chức năng, thiết kế cấu trúc và thiết kế bên ngoài của sản phẩm.
Tích luỹ năng lực kỹ thuật sản xuất: Nó bao gồm công nghệ và thiết bị. Phát huy bồi dưỡng, tăng cường năng lực công nghệ cho cán bộ, doanh nghiệp là điều kiện quan trọng để nghiên cứu phát triển sản phẩm, phát triển doanh nghiệp. Đây cũng là điểm rất hạn chế ở các doanh nghiệp Hà Nội. Còn năng lực thiết bị ở các doanh nghiệp cũng ở mức độ bình thường đang được bổ sung, hoàn chỉnh dần dần. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng việc đầu tư này cần xuất phát và bám sát chiến lược sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt chú trọng chiến lược sản phẩm.
Tích luỹ năng lực về quản lý: Đến nay, vấn đề quản lý doanh nghiệp mới được đa số các doanh nghiệp coi trọng đúng mức. Trong hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp, nội dung và yêu cầu quản lý phải thiết thực và gắn với quản lý (quản trị) đồng bộ doanh nghiệp. Bản chất của quá trình quản lý là áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ với các yếu tố sản xuất kinh doanh dịch vụ để phát triển sản phẩm đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Đó là quản lý ý tưởng sáng tạo, quản lý thiết kế, chế tạo gia công thử, quản lý quá trình sản xuất, quản lý công nghệ và quản lý chất lượng theo hệ thống. Như vậy tích lũy năng lực quản lý ở doanh nghiệp nhằm phát triển nghiên cứu thiết kế sản phẩm và tăng cường năng lực quản lý sản xuất.
2. Phương thức tích lũy năng lực kỹ thuật bằng hợp tác
Đây là những phương thức thích hợp nhằm tập hợp những đơn vị tổ chức có lợi ích độc lập thành một tổ chức hợp tác, lấy doanh nghiệp làm trọng tâm để mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển cho doanh nghiệp.
a. Hợp tác giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp
Hợp tác này thường được thể hiện dưới các hình thức như hỗ trợ nhau về mặt kỹ thuật, cùng tổ chức hoạt động kỹ thuật và nghiên cứu theo một phương thức nhất định, hoặc xuất phát từ lợi ích chung cùng triển khai một hoạt động kỹ thuật nghiên cứu và ứng dụng nào đó, hoặc liên kết giữa đơn vị mạnh với đơn vị yếu nhằm nâng cao năng lực kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho bên yếu đồng thời trong quá trình chuyển giao này bên mạnh tự cải tiến kỹ thuật, nảy sinh công nghệ và tri thức cần thiết.
b. Hợp tác giữa doanh nghiệp với tổ chức khoa học công nghệ
Các doanh nghiệp của Hà Nội hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ, đa số thiếu kỹ thuật, thiếu nguồn tri thức và công nghệ. Phần lớn lực lượng cán bộ khoa học biệt lập với doanh nghiệp, chủ yếu trực thuộc các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, các viện …
Hợp tác giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu, trường đại học nghĩa là dựa vào lực lượng cán bộ khoa học để thực hiện tích lũy năng lực kỹ thuật và điều kiện nghiên cứu triển khai cho doanh nghiệp. Có thể áp dụng các hình thức phổ biến như hợp tác theo các nội dung kỹ thuật, vấn đề nghiên cứu được ký kết trên hợp đồng, hợp tác theo kiểu góp vốn hoặc hợp tác cùng đầu tư cơ sở để khai thác triển khai.
Việc phát triển doanh nghiệp đang đòi hỏi một yêu cầu đối với lãnh đạo doanh nghiệp về tư duy quản trị - đó là tư duy liên kết mở. Mở trong kết nối kỹ thuật, mở theo quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ từ nghiên cứu thiết kế, sản xuất, phân phối, dịch vụ sau bán hàng, rồi lại thiết kế hoàn thiện sản phẩm hàng hoá.
PGS.TS. Phạm Hồng