English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
 Phiên bản Beta
MÔI TRƯỜNG
ARSENIC và sức khoẻ con người

Ô nhiễm asen trong nước ăn uống, liên quan mật thiết với sức khoẻ con người ở một số nước trên thế giới như Bangladesh, ấn Độ, Hoa Kỳ. Người ta ước tính số người tiếp xúc với nồng độ asen tương đối cao trong nước uống, lớn hơn 10 g/lit, vượt quá con số triệu người ở Tây Bengal, 30-40 triệu người ở Bangladesh và 13 triệu người ở Mỹ. Theo số liệu tính toán, asen trong nước uống gây ung thư và dẫn đến tử vong từ 200.000-270.000 người chỉ tính riêng ở Bangladesh.
Mặc dù có một số nguồn khác, nguồn chính vẫn là các hoạt động nông nghiệp và công nghiệp, người ta tin rằng asen, được phân bố khắp nơi trên bề mặt vỏ trái đất, được đưa vào nước uống qua sự hoà tan chất khoáng và quặng và sự ăn mòn đá núi ở địa phương. Các hoạt động khai thác mỏ, ví dụ mỏ thiếc, có thể dẫn đến ô nhiễm asen trong môi trường và cuối cùng là nước uống.
Vừa qua nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế đã khảo sát nước ngầm ở Hà Nam và một số nơi cho thấy hàm lượng As trong nước ngầm đều rất cao.

Bảng 1 tính chất nước ngầm tại các điểm khảo sát ở tỉnh Hà Nam

 

 

Vĩnh Trụ

Nhân Đạo

Bồ Đề

Hoà Hậu

Number of sample

11

15

11

15

Al (g/L)

12

21

26

13

As (g/L)

280

18

154

205

Ca (mg/L)

1

122

206

126

Cr (g/L)

<1

<1

<1

<1

Cu (g/L)

<1

<1

<1

1

Fe (mg/L)

28

16

18

18

Ni (g/L)

1

2

2

1

Mg (mg/L)

18

57

67

35

Mn (g/L)

455

2348

322

463

K (mg/L)

<1

94

94

75

Pb (g/L)

<1

<1

<1

<1

Se (g/L)

1

3

4

3

 Bảng 2: Kết quả quan trắc tại  đồng bằng sông Cửu Long

Thông số

An Giang

Đồng Tháp

Long An

As (ppb)

Bé nhất

0.1

0.1

0.2

Lớn nhất

1351

666

25

Trung bình

110

57

4.4

Điểm giữa

4

9

2

Mn (ppb)

Bé nhất

0.06

4

0.9

Lớn nhất

16530

11960

10910

Trung bình

1805

1309

725

Điểm giữa

641

127

490

Fe (ppb)

Bé nhất

0.1

5

28

Lớn nhất

4755

16993

31970

Trung bình

224

1216

3173

Điểm giữa

37

333

1222

Một số nghiên cứu (UNICEF) tiến hành tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng và sông Mê Kông cho thấy, mức độ ô nhiễm asen trong nguồn nước ngầm ở Việt Nam rất nghiêm trọng. Phần lớn các giếng khoan được lấy mẫu phân tích có nồng độ asen cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép đối với nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt (10 g/l) theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế số 1329/BYT/QĐ, ban  hành 4/2002.

-  Tỉnh Hà Nam là địa phương có mức độ nhiễm As nặng nhất, tỷ lệ các giếng khoan có nồng độ asen cao ở mức nguy hiểm (từ 100 g/l đến 500 g/l) chiếm tới 80%. Một số tỉnh khác đã được xác định cũng có biểu hiện ô nhiễm asen trong nguồn nước ngầm như: Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, An Giang, Đồng Tháp, Long An,....

-  Kết quả điều tra sơ bộ tại các xã của một số tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng cho thấy nguồn nước sử dụng cho ăn uống là giếng khoan: 80%, nước mưa: 19,1%, giếng đào: 0,8% và nước sông, hồ: 0,1%.

-  Người dân thường chỉ sử dụng nước giếng khoan để ăn uống vào các tháng mùa khô, phần lớn là trên 6 tháng (97,3%). Số hộ gia đình trữ được nước mưa để ăn uống trong vòng 3 đến 6 tháng  chỉ có khoảng 2,7%. Toàn bộ những tháng còn lại, vẫn phải sử dụng nước giếng để rửa thức ăn và tắm gội nên không tránh khỏi sự tiếp xúc với asen qua đường ăn uống và qua da, mặc dù ở mức độ thấp.

Asen là chất gây ô nhiễm môi trường có mặt ở khắp nơi và là chất gây ung thư. Asen thâm nhập vào cơ thể con người trước tiên qua đường tiêu hoá và đường hô hấp. Sau khi hấp thụ qua phổi và dạ dày - ruột, asen đầu tiên tích luỹ ở gan, lách, thận, phổi và dạ dày, ruột mặc dù sự làm sạch của các mô này xảy ra nhanh. Trong thời gian 2 - 4 tuần sau khi ngừng tiếp xúc, hầu hết asen còn lại trong cơ thể nằm trong các mô giàu keratin như là da, tóc, móng, xương và răng. Quá trình methyl hoá trong gan là cơ chế chủ yếu của cơ thể để giải độc asen dẫn đến chuyển hoá thành axit methylarsonic và axit dimethylarsinic ít độc hơn và dễ dàng đào thải ra ngoài hơn. Asen được đào thải trước hết qua thận với hầu hết nước tiểu có mặt asen dưới dạng chất chuyển hoá methyl hoá.

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tiếp xúc lâu ngày với asen trong nước uống liên quan tới tăng nguy cơ bị ung thư da, bàng quang, phổi, gan và thận. Asen còn liên quan đến nhiều bệnh khác như rối loạn vận mạch, bệnh thần kinh ngoại vi và tiểu đường. Tăng nguy cơ ung thư phổi và bàng quang, tổn thương da liên quan với asen tìm thấy ở những nơi có nồng độ asen trong nước uống thấp hơn 5 g/l. ở Trung Quốc, tiếp xúc với asen qua đường nước uống cho thấy đó là nguyên nhân gây bệnh mạch máu nguy hiểm dẫn đến hoại tử được gọi là "Bệnh chân đen".

- Trẻ em là nhóm người dễ bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với các chất độc nói chung do các yếu tố hành vi sinh lý. Sự phát triển bào thai cũng nhạy cảm với các chất độc như asen, chúng dễ dàng thâm nhập qua rau thai trong cơ thể con người và các động vật có vú khác. Điều được thừa nhận là bào thai và giai đoạn phát triển sớm ở trẻ sơ sinh là dễ bị tổn thương nhất do ảnh hưởng có hại của chất độc trong môi trường. Đó là lí do vì sao vệ sinh môi trường cho trẻ em là một chương trình quan trọng của WHO.

-  Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tiếp xúc asen ở các bà mẹ có thai làm tăng nguy cơ ảnh hưởng có hại ở trẻ nhỏ, bao gồm tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em do các bệnh phổi ác tính và không ác tính. Các nghiên cứu cũng còn cho thấy ảnh hưởng lên sự phát triển nhận thức và trí tuệ ở trẻ em tiếp xúc với asen. Tiếp xúc với asen trước khi sinh ở quần thể người liên quan với giảm trọng lượng ở trẻ sơ sinh và tăng tỷ lệ tử vong. Qua đó, tiếp xúc lâu dài với asen là vấn đề liên quan đến sức khoẻ toàn cầu. Các nghiên cứu độc chất học thực nghiệm trên động vật đã chứng minh tính chất gây độc thần kinh của asen, ví dụ những ảnh hưởng lên hành vi hiểu biết đã quan sát được trên loài chuột. Nhiều nghiên cứu đã báo cáo về cơ chế có thể gây ung thư của asen bao gồm cơ chế gây độc và không gây độc gen. Rõ ràng asen và sự trao đổi chất của nó có thể gây ra những tác động độc tính gián tiếp bằng cách tạo ra những sai lạc nhiễm sắc thể, tính bội không chỉnh và vi nhân cũng như stress oxy hoá. Thêm vào đó, sự biến đổi gen, tiếp xúc với asen còn cho thấy ảnh hưởng lên quá trình methyl hoá DNA, khuếch đại gen và kiểm soát chu kỳ tế bào. Ví dụ: xử lý asen gây ra sự tăng methyl hoá toàn bộ, đặc biệt sự methyl hoá chuỗi D1 và cảm thụ quan estrogen và giảm methyl hoá gen p53. Việc xác định cơ chế chính xác của chất gây ung thư sẽ được xem xét để xác định bản chất và phạm vi tác hại sức khoẻ con người hiện nay do tiếp xúc asen trong môi trường và để triển khai can thiệp và triển khai các chiến lược phòng ngừa.

-  Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ mắc các triệu chứng như mẩn ngứa ngoài da, rụng tóc, chuột rút, ở các đối tượng trong nhóm tiếp xúc cao hơn nhóm đối chứng. Đặc biệt là các biểu hiện tổn thương đặc trưng cho tiếp xúc với asen qua nguồn nước như: rối loạn sắc tố da, các nốt tăng sắc tố xen kẽ với các nốt mất sắc tố xuất hiện ở các vùng kín không bị chiếu nắng mặt trời như: bụng, ngực, lưng và ngang thắt lưng.

Để đề phòng tác động xấu của As chúng ta cần phải sử dụng nước sạch. Những nơi; chưa có nước máy cần phải tiến hành lọc nước bằng sỏi, cát, than, hoặc nhiều hỗn hợp khác nhau để giảm bớt hàm lượng As.

- Đối với phụ nữ mang thai nên tăng cường ăn thức ăn có bổ sung Forie để giảm tác động xấu của As, và hạn chế sự chuyển As từ mẹ sang con.

-  Cần tăng công tác truyền thông đại chúng để cho mọi người hiểu sự tiếp xúc có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

-  Biết cách phát hiện sự tiếp xúc ở con người và dự báo liệu sự tiếp xúc đó sẽ gây ra hoặc không gây ảnh hưởng lên các cá nhân riêng biệt.

-  Tìm được các phương pháp phòng ngừa những ảnh hưởng có hại cho sức khoẻ do sự tiếp xúc đó.

PGS.TS.Nguyễn Đức Khiển

Các tin khác
THỦ THUẬT TIN HỌC
TT KH PHỤC VỤ NN
LƯỢT TRUY CẬP
Lượt truy cập:200173
QUẢNG CÁO

   Copyright © 2009 SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
   Giấy phép: số 217/GP-TTĐT do Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 25/12/2009.
   Địa chỉ: Số 5 và số 7 Nguyễn Trãi - Hà Đông - Hà Nội - Điện thoại : (+84 4) 3382 4207 - Fax: (+84 4) 3382 5374 - Web site: dost.hanoi.gov.vn